Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Thực Địa của Hán Nôm k55



Hè năm thứ 3, cũng như các khóa trước, lớp chúng tôi đã có chuyến đi Thực địa. Đợt đi Thực địa của chúng tôi bắt đầu nhằm vào ngày mồng 1 tháng 8 Tây, tức là nhằm vào Hạ tuần tháng 6 Nông lịch. Đối với cá nhân tôi, cũng như tất cả bạn bè cùng tam gia chuyến đi Thực địa này mà nói thì đấy là một chuyến đi “nhớ đời”. Dưới đây là một số hình ảnh của chuyến đi.
Chiều ngày 1/8/2013, cả lớp đi tham quan chùa Thầy.

 
Sáng hôm sau (mồng 2), thầy Lê Văn Cường hướng dẫn cả lớp các kĩ thuật dập bia tại chùa Thầy.

Nhóm 1, thực hiện dập bia tại chùa Phan (Long). Hảo nhóm trưởng và Sơn Đình đang lăn mực.

Nhóm trưởng nhóm 2, Phạm Văn Duy (Vô Ưu) cùng các thành viên đang thực hiện dập bia.

Nhóm trưởng nhóm 3, Hoàng Ngọc Hiếu đang cheo leo để dập bia, các thành viên khác dựa thang và hỗ trợ công cụ.
Một số thành viên trong nhóm "cơ động" đang hong khô một tấm bia được dập tại chùa Trầm.



Một số thành viên nhóm 3 đang đọc và chép câu đối. Quảng, Ngoan (cầm ô), Luyên cầm sách ghi chép.

Thành quả của nhóm 1 tại chùa Phan, tất cả được huy động để chèn bia cho gió khỏi bay.

Đêm 3/8, nhóm 1 đang kiểm tra và dán lại bia đã dập được tại chùa Long Đẩu.

Nhóm 3 đang ngồi nghe các Cụ kể chuyện về đình So.
Nhóm 1, chụp ảnh kỷ niệm tại chùa Phan. Thiếu tay Nhóm trưởng đang làm phó nháy. :v

Các thành viên nhóm 2 đang chuẩn bị dùng bữa trưa bên ngoài, do hôm đó đi làm xa.

Sáng sớm, anh em ăn mì tôm.

Hậu cần. :v


Ban hậu cần chăm lo sức khỏe cho anh chị em. Buổi đầu tiên nên đang làm quen với khói bếp.

Bữa cơm "đạm bạc". Thành quả của ban hậu cần.

Các anh chàng Hán Nôm k55 đang cùng thầy hướng dẫn, chú tài xế dùng bữa đầu tiên.
Và, những giây phút thảnh thơi ngồi buông câu. Chẳng lo bận điều gì, thật thoải mái  biết bao. (Người trong ảnh: Sơn Đình)

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Bài tựa sách Ngũ luân ký


Ảnh 2
Ảnh 1

      
Ảnh 3


1.      Phiên âm: Ngũ luân ký tự
Nhân chi ngũ luân, kỳ thiên chi ngũ hạnh dư? Cái nhân chi sở dĩ vi nhân, đắc ư thiên chi tứ dữ, bản ư tâm, căn ư tính. Hữu quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu. Sở vị Ngũ luân, nhân chi hữu nghĩa, hữu thân, hữu biệt, hữu tự, hữu tín. Thực tại nhân chi bất dung dĩ tu du li di luân chi đạo. Minh tắc khả phục kỳ sơ hỹ.
 Khí bẩm thiên cố học vấn, vu sơ ư ngũ giả, mỗi khủng kỳ bất năng tận dã. Hạnh kiến tiền bối Ngũ Luân Quốc Ngữ Ca, cụ đạo kỳ sở đương nhiên.
  Thời thủ nhi ngâm vịnh chi duyệt, dịch vu trung bất năng tự kỷ nãi ngộ tác giả chi ý, tương sử gia dụ hộ hiểu. Tuy nhi đồng, phụ nữ diệc giai đắc nhi tri chi dã.
Ta hu! Minh luân chi học, kinh tịch tải chi bị hỹ, nhi tư ký hựu thản nhiên minh bạch. Tiền bối hữu công ư thế, giáo diệc khởi tiểu. Vân đệ di bản hạo phồn âm điệu, hoặc hữu nan hiểu xứ.
Ư thị, truy thuật tiền ngôn, giáo chính thanh luật, thủ kỳ dị tri giả, dụng tẩm vu tử dĩ quảng kỳ truyền. Thứ cơ, tiền bối chi di huấn thùy ư vô cùng nhĩ.
Cảm viết tự vân hồ tai.
Hoàng Triều Minh Mệnh vạn niên chi thập nhất, quế nguyệt, cốc nhật.
Thọ Hà Bùi Tú Lĩnh giáo khắc.
2.      Dịch nghĩa: Bài tựa sách Ngũ luân ký
Năm đạo thường hằng của con người, như là năm cái nết của trời vậy ư? Có lẽ con người sở dĩ thực là con người là vì nhận được phú bẩm từ trời. Vốn là ở tâm mà cái gốc là ở tính. Có năm mối gọi là ngũ luân là gồm: quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu. Bởi vì ngũ luân có nghĩa, có thân, có biệt, có tự, có tín, thực là ở chỗ con người lấy làm cái phép thường mà không thể xa lìa dù chỉ là trong chốc lát. Nếu sáng tỏ được nó  thì có thể trở về được như lúc ban đầu vậy.
Khí bẩm thì hệ nhiều ở học vấn mà rồi thông suốt ở năm cái đạo luân thường. Chỉ lo rằng năm cái đạo thường không thể tận tỏ được hết vậy. May mắn thay là tôi được thấy Ngũ luân Quốc ngữ ca五倫國語歌của các bậc tiền bối, có đầy đủ tất cả những cái điều mà năm đạo thường nên phải có.
Lúc bấy giờ mới lấy nó (Ngũ luân quốc ngữ ca) mà ngâm vịnh, cảm thấy vui thích trong lòng mà không thể tự mình thấu tỏ được cái ý của tác giả muốn khiến cho nhà nhà ai cũng hiểu rõ, dù là trẻ nhỏ hay là phụ nữ cũng đều có được những hiểu biết về năm cái đạo thường hằng.
Chao ôi! Làm cho sáng tỏ cái học về luân thường, sách vở xưa còn ghi đầy đủ, mà rồi những chỗ ghi chép này cũng tự nhiên mà sáng tỏ. Các bậc tiền bối đã có công với đời, có công với việc giáo hóa lại há có thể bị coi là nhỏ. Nhưng rằng, bản còn sót lại có âm điệu mênh mông, phức tạp, hoặc có chỗ khó hiểu.
Và rồi, tôi tìm tòi và noi theo lời của tiền nhân, so sánh về thanh luật, lấy những chỗ dễ hiểu, dùng gỗ khắc in thành sách để được lưu truyền rộng rãi. Ngõ hầu cái dạy bảo của các bậc tiền bối lưu lại đến vô cùng.
Tôi bạo dạn làm bài tựa như vậy.
Ngày lành tháng tám, năm Minh Mệnh thú 11 (1830).
Bùi Tú Lĩnh hiệu khắc ở Thọ Xương, Hà Nội.

 Bách Quỷ Trúc Lâm dịch

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Bài tựa Lễ ký tập thuyết



1.      Chữ Hán
禮記集說序
前聖繼天立極之道莫大於禮後聖垂世立敎之書亦莫先於禮禮儀三百威儀三千孰非精神心術之所寓故能與天地同其節四代損益世遠經殘其詳不可得聞矣儀禮十七篇戴記四十九篇先儒表章庸學遂爲千萬世道學之淵源其四十七篇之文雖純駁不同然義之淺深同異誠未昜言也鄭氏祖鄭之從雖有他說不復收載固爲可恨然其灼然可據者不可昜也近世應氏集解於雜記大小記等篇皆闕而不釋噫愼終追遠其關於人倫世道非細故而可略哉先君子師事雙峯先 生十有四年以是經三領鄉書爲開慶名進士所得於師門講論甚多中罹煨燼隻字不遺不肖孤僭不自量會華衍繹而附以臆見之言名曰禮記集說蓋欲以坦明之說使初學讀之卽了其義庶幾章句通則緼奥自見正不必髙爲議論而卑視訓詁之辭也書成甚欲就正于四方有道之士而衰年多疾遊歷良艱姑藏巾笥以俟來哲治敎方興知禮者或有取焉亦愚者千慮之一爾。
至治壬戌良月旣望後學東匯澤陳澔序。
2.      Phiên âm: Lễ ký tập thuyết tự
Tiền thánh kế thiên lập cực chi đạo, mạc đại ư lễ. Hậu thánh thùy thế lập giáo chi thư diệc mạc tiên ư lễ. Lễ nghi tam bách, uy nghi tam thiên, thục phi tinh thần tâm thuật chi sở ngụ, cố năng dữ thiên địa đồng kì tiết. Tứ đại tổn ích, thế viễn kinh tàn, kì tường bất khả đắc văn hỹ. Nghi Lễ thập thất thiên, Đái Ký tứ thập cửu thiên, tiên Nho biểu chương Dung Học, toại vị thiên vạn thế đạo học chi uyên nguyên. Kỳ tứ thập thất thiên chi văn, tuy thuần bác bất đồng, nhiên nghĩa chi tiễn thâm đồng dị, thành vị ngôn dã. Trịnh thị tổ sấm vĩ, Khổng sớ duy Trịnh chi tòng, tuy hữu tha thuyết, bất phục thu tải, cố vi khả hận. Nhiên kỳ chước nhiên khả cứ giả, bất khả dịch giả.
Cận thế Ưng thị tập giải ư Tạp Ký, Đại Tiểu ký đẳng thiên, giai khuyết nhi bất thích. Y! “Thận chung truy viễn”, kỳ khuyết ư nhân luân thế đạo chi tế, cố phi khả lược tai?
Tiên quân tử sư sự Song Phong tiên sinh thập hựu tứ niên, dĩ thị Kinh tam lĩnh hương thư, vi Khai Khánh danh tiến sĩ, sở đắc ư sư môn giảng luận thậm đa, trung ly ổi tẫn, chích tự bất di. Bất tiếu cô, kê bất tự lượng, hội túy diễn dịch, nhi phụ dĩ ức kiến chi ngôn, danh viết Lễ ký tập thuyết.
Cái dục dĩ thản minh chi thuyết, sử sơ học độc chi tức liễu kì nghĩa, thứ cơ chương cú thông, tắc uẩn áo tự hiện, chính bất tất cao vi nghị luận nhi ty thị huấn cố chi từ dã.
Thư thành hựu thậm dục tựu chính vu tứ phương hữu đạo chi sĩ, nhi suy niên đa tật, du lịch lương gian, cô tàng cân từ, dĩ sĩ lai triết. Trị hiệu phương hưng, tri lễ giả hoặc hữu thủ yên, diệc ngu giả thiên lự chi nhất nhĩ.
Trí Trị Nhân Tuất lương nguyệt ký vọng.
Đông Hối Trạch Trần Hạo tự.
3.      Dịch nghĩa: Bài tựa sách Lễ ký tập thuyết
Các bậc thánh xưa nối trời lập chuẩn không gì lớn hơn lễ. Sách vở của các bậc thánh sau dựng giáo để lại cho đời cũng không gì trước hơn lễ. Ba trăm lễ nghi, ba nghìn uy nghi, không có chỗ nào là không ẩn chứa cái tinh thần tâm thuật, nên có thể cùng sánh với phẩm tiết trời đất. Bốn đời thêm bớt, đời xa kinh nát, sự tường tận của sách cũng chẳng còn được nghe nữa. Mười bảy thiên Nghi lễ, bốn mươi chín thiên Đại Tiểu ký, tiên Nho đề cao hai thiên Đại Học và Trung Dung, từ đó làm nguồn gốc cho đạo học muôn đời. Lời văn của 47 thiên ấy, tuy là thuần tạp khác nhau, nhưng nghĩa lý nông sâu thì có khác, thực là chưa dễ nói. Họ Trịnh noi theo sấm vĩ, cũng chỉ có họ Trịnh là theo sớ của họ Khổng, dẫu là các thuyết khác nhau, song cũng không được thu vào mà ghi lại, vốn đã lấy làm giận lắm. Thế nhưng những chỗ rõ ràng thì cũng có thể dựa vào đấy được, thực không dễ thay đổi.
Gần đây họ Ưng làm tập giải mà các thiên như Tạp ký, Đại Tiểu ký lại bỏ sót mà không giải thích gì cả. Than ôi! “Thận chung truy viễn”, sự liên quan của nó đến đạo trời, đạo người là không nhỏ vậy, há có thể lược bỏ đi được hay sao?
Cha tôi theo học tiên sinh Song Phong được 14 năm, nhân cái kinh sách này mà đã ba lần đảm trách việc học quan ở cấp hương, đỗ tiến sĩ năm Khai Khánh, những điều lĩnh hội được từ thầy giảng giải cũng thật nhiều, nhưng nửa chừng mắc phải nạn binh hỏa, một chữ cũng chẳng sót lại. Kẻ bất tiếu hèn kém tôi thật không biết tự lượng sức mình, gom các thuyết lại với nhau, phát huy giảng giải mà thêm vào kiến giải của riêng mình, đặt tên là Lễ ký tập thuyết.
Đại khái là muốn đem cái thuyết dễ hiểu này để giúp cho những kẻ mới học có thể đọc một cái là có thể hiểu luôn được nghĩa lý, thông suốt được câu cú, thì những chỗ uẩn diệu cao siêu cũng tự nhiên rõ ràng. Không phải là nghị luận những điều cao siêu mà xem nhẹ những lời chú giải từ ngữ.
Sách viết xong lại muốn đem đến cho kẻ sĩ có đạo ở bốn phương chính sửa cho, nhưng tuổi cao sức yếu, đi lại khó khăn, chỉ đành tạm cất vào rương để đợi kẻ hiền triết ngày sau. Ngày nay việc trị hiệu hưng thịnh, người biết lễ hoặc là có ai tiếp thu được sách này, âu cũng là một trong muôn điều mong muốn của kẻ ngu tôi
Ngày 16 tháng 2 năm Nhâm Tuất, niên hiệu Khai Khánh.
Trần Hạo viết lời tựa ở Đông Hối Trạch.