Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

VĂN TẾ THẬP LOẠI GIÁO SƯ.

      Tiểu dẫn: Mỗi năm một lượt “đến hẹn lại lên”, Hội đồng chức danh học hàm nhà nước lại cho triển khai đợt xét phong học hàm Giáo sư và Phó giáo sư. Thế là, các ông nghè bà nghè cả nước lại một phen nháo nhào “đăng trường ứng thí”. Cũng là một thứ “Lều chõng” tái thế mang khuôn dạng có vẻ mỹ miều. Chẳng biết các Hội đồng của các ngành khác thế nào không rõ, chứ Hội đồng bên cái ngành văn vẻ năm nào cũng eo sèo lắm chuyện chẳng mấy sạch sẽ gì.
      Hội đồng chuyên ngành đã vừa kết thúc. Như mọi cuộc thi, có kẻ khóc người cười. Ấy là nói phía những “ứng thí viên”. Chứ còn những “giám khảo viên” cũng không dám chắc là không có chuyện…Kẻ hậu sinh này  rập đầu cúi xin Đại thi hào Nguyễn Du được tập “ Văn chiêu hồn”  của Người mà “khốc” rằng:

                                          
Tiết quý Thu gió mưa vuồn vuột
Dân quê miềng lạnh buốt xương da
   Lập đàn đèn nến hương hoa
Lạy ông tiến sĩ, lạy bà giáo sư.

Bể học vấn hư hư thực thực
Lối quan trường bắc bực gai chông
   Vênh vênh một lũ Hội đồng
Phiếu bầu thì có, đầu không có gì.

Không có gì mà gì cũng có
Sự học hàm ngấp ngó đua tranh
   Đua tranh thì có giá thành
Mua danh ba vạn, bán danh ba hào.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng
Chốn Tam đình ngong ngóng vào ra
   Thanh binh chính thị nghiệp nhà
Ô hô mồm giải mép loa cũng tài.

Nào những kẻ miệt mài đèn sách
Đạo văn người chắp nhặt nên câu
   Sách người làm mọt làm sâu
Ô hô nhai lại kiếp trâu kiếp bò.

Nào những kẻ tò vò nuôi nhện
Bụng nhện tròn nó quện luôn ông
   Ô hô mông quạnh đồng không
Có hương có khói nhưng không bàn thờ.

Nào những kẻ lập lờ đục nước
Hội Tâm linh mưu chước sắp bày
   Dị nhân đuổi gió hô mây
Quái nhân múa mép, múa tay, múa tiền.

Nào những kẻ điên điên dại dại
Nay quốc ca mai lại quốc hoa
   Ô hô vỏ lựu mào gà
Nước nôi man mác biết là còn không.

Nào những kẻ lưu vong thất thổ
Cõi Tây phương mặt rỗ kỳ khu
   Học đòi lí lẽ ba xu
Chõ về đàn gảy tai tru mà rầu.

Nào những kẻ Đông Âu tu luyện
Trợ cấp còm tằn tiện từng khâu
   Gái xinh chẳng dám nhìn lâu
Áo phông son Thái khấu đầu bán buôn.

Nào những kẻ cúi luồn thân phận
Tay bút gươm lòng lận bút lông
   Ô hô trời đất thấu không
Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa.

Nào những kẻ ghen gà tiếng gáy
Hám vinh danh tháu xoáy công trình
   Chưa thôi tranh luận rập rình
Đã lôi nhau đến pháp đình… tội chưa.

Cũng có kẻ thân lừa ưa nặng
Cũng có cha lẵng nhẵng oán ân
   Cuốc Liên điện thoại Ma Lân
Đánh rơi thằng nọ, xí phần đứa kia…

Phận bèo bọt thia lia mặt nước
Giang sơn này độc dược tràn lan
   Bán buôn sông biển non ngàn
Hồn hề hồn hỡi hồn tan hay còn…

(Khuyết danh)
Cuối năm Quý Tỵ cóp nhặt được.

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

Giá nhất bái 这一拜




这一拜,春风得意遇知音,桃花也含笑映祭台。
这一拜,保国安邦志慷慨,建国立业展雄才 展雄才
。
这一拜,忠肝义胆,患难相随誓不分开
。
这一拜,生死不改,天地日月壮我情怀
。
长矛在手,刀剑生辉
。
看我弟兄,迎着烽烟大步
来。


Một lạy này, gió xuân ấm áp gặp tri âm, hoa đào hé nở sáng tế đàn.

Một lạy này, cứu nước an dân lòng khảng khái, dựng xây nghiệp lớn tỏ hùng tài.

Một lạy này, trung nghĩa một lòng, cùng chung hoạn nạn, thề không xa rời.

Một lạy này, sống chết chẳng đổi, trăng sao trời đất chứng lòng.

Giáo mác trên tay, đao kiếm sáng ngời.
Hãy xem anh em ta đây, sợ gì lửa khói xông thẳng tới!

Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014

Sắc phong Quảng Trạch Đại Vương 4












 1. Phiên âm:
      Sắc: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Hậu Đức Chí Nhân Hỗ Đại Vương.
      Thực bất yểm phù, đức kì thịnh hỹ. Đa hãn tai ngự hoạn chi lực, ức tải uy linh hữu an dân hộ quốc chi công. Bách thế miếu tự, quốc tộ thâm kỳ hộ hữu. Lễ văn tái cử bao phong.
      Vị: Dục trí thiên địa ứng hòa, tỉnh cung trách kỉ. Kính ý cầu đảo. Ưng gia phong, khả gia phong: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Hậu Đức Chí Nhân Triệu Mưu Tá Tich Hỗ Đại Vương.
      Cố sắc!
      Đức Long ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập thất nhật.

2. Dịch nghĩa:
      Sắc cho: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Hậu Đức Chí Nhân Hỗ Đại Vương.
      Thực chẳng thể che giấu, đức quả thịnh thay. Nhiều công ngăn tai trừ họa, uy danh muôn thuở có công giúp nước an dân. Thờ cúng trăm đời, vận nước thêm phần gìn giữ. Theo lễ tốt đẹp nên tiến hành nghi lễ tặng khen.
      Vì là: Muốn đưa trời đất đến cảnh thái hòa, tự xét nét nơi thân mình. Kính cẩn cầu đảo. Đáng được gia phong, vậy nên gia phong cho là: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Hậu Đức Chí Nhân Triệu Mưu Tá Tich Hỗ Đại Vương.
      Vậy nên sắc cho!
      Ngày 27 tháng 5 năm Đức Long thứ 5.

Sắc phong Quảng Trạch Đại Vương 3














1. Phiên âm:
      Sắc: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Đại Vương.
      Nguy nguy thịnh đức, mặc mặc thần công. Chí nhi tư, cập nhi quy. Thực vi nhất vật âm dĩ phù, mặc dĩ tướng tộ diễn ức niên. Chính quyền phương hữu sở quy tự, điển hạp minh tái cử!
     Vị: Triều thần thiêm luận, kiến lập thế tử dĩ trọng quốc bản, sự quan trọng đại. Ưng gia phong, khả gia phong: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Hậu Đức Chí Nhân Đại Vương.
      Cố sắc!
      Đức Long tứ niên tam nguyệt nhị thập cửu nhật.
2. Dịch nghĩa:
      Sắc cho: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Đại Vương.
      Thịnh đức vòi vọi, thần công lặng lẽ. Đến mà phát triển, kịp mà thuận theo. Thực là ngầm giúp cho muôn vật một phương, lặng lẽ mà phù cho vận nước đến muôn đời. Chinh quyền địa phương đã thờ cúng, điển lễ há lại chẳng tặng khen!
     Vì là: Triều thần thiêm bàn, kiến lập thế tử để trọng quốc bản, việc liên quan trọng đại. Đáng được gia phong, vậy nên gia phong cho là: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Hậu Đức Chí Nhân Đại Vương.
     Vậy nên sắc cho!
     Ngày 29 tháng 3 năm Đức Long thứ tư.

Sắc phong Quảng Trạch Đại Vương 2

 










1. phiên âm:
      Sắc: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Đại Vương.
      Càn khôn dục tú, sơn nhạc trừ tinh. Bảo quốc hộ dân, bảo nhất phương chi cảnh thổ; trừ tai ngự hoạn, bẩm vạn cổ chi uy linh. Vũ thí đa đắc vũ chi công. Phong hậu cử gia phong chi lễ.
     Vị: Hiển hữu linh ứng, dĩ đảo đắc vũ. Ưng gia phong, khả gia phong: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Đại Vương.
     Cố sắc!
     Đức Long nguyên niên thất nguyệt nhị thập lục nhật.

2. Dịch nghĩa:
     Sắc cho: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Đại Vương.
     Sơn nhạc hun đúc vẻ tinh anh, đất trời dựng xây màu tươi đẹp. Giữ nước gìn dân, trông nom một vùng lãnh thổ; ngăn tai trừ họa, bẩm uy linh từ muôn thuở. Ơn thần nhiều lần ban mưa. Tiến hành nghi lễ gia phong hậu hĩnh.
     Vì là: Linh ững rõ bày, từng cầu được mưa. Đáng được gia phong, vậy nên gia phong cho là: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Phù Tộ Linh Thông Đại Vương.
     Vậy nên sắc cho!
     Ngày 26 tháng 7 năm Đức Long thứ nhất.

Sắc phong Quảng Trạch Đại Vương 1














1. Phiên âm:

     Sắc: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Đại Vương.
     Đức cực kì thịnh, thánh bất khả tri. Hách nguyện thanh, trạc nguyện linh. Dương dương tại thượng. Ngự phù tai, hãn phù hoạn. Vỉ [?] thùy hưu, thực đa tướng hựu chi công. Tái cử bao phong chi lễ.
     Vị: Mạc nghiệt đầu hàng, hựu quốc hữu công. Khả gia phong: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Đại Vương.
     Cố sắc!
     Vĩnh Tộ bát niên nhị nguyệt nhị thập tứ nhật.

2. Dịch nghĩa:
     Sắc cho: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Đại Vương.
     Đức rất là thịnh, thánh cũng không hay. Uy thanh lừng lẫy, rực rỡ linh thiêng. Mênh mông ở trên. Ngăn tai, trừ họa. [Gắng để phúc lành], thực là nhiều công trợ giúp. Nên cử hành nghi lễ tặng khen.
      Vì là: Giặc Mạc đầu hàng, giúp nước có công. Vậy nên gia phong cho là: Bảo Quốc Hựu Dân Địch Khang Dũng Vũ Trang Nghị Hùng Liệt Hiển Ứng Cương Chính Hậu Phúc Linh Cảm Tín Sùng Minh Dực Định Y Cung Đôn Hậu Tĩnh Phù Huệ Khuông Hóa Chiêu Hòa Tuyên Mỹ Quang Hanh Long Triết Dương Hưu Phù Vận Hoằng Công Tế Chúng Phụ Quốc Tá Trị Tĩnh Nan Phong Công Thịnh Đức Tuy Hưu Đốc Khánh Ninh Đông Nhân Đức Huệ Trạch Phù Thế Quảng Trạch Đại Vương.
     Vậy nên sắc cho!
     Ngày 24 tháng 2 năm Vĩnh Tộ thứ 8.

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

Tại sao nói "Thi ký vong, Xuân Thu tác. Ngụ bao biếm, biệt thiện ác"?

Thi là bộ tổng tập thơ ca dân gian của Trung Quốc thời cổ trên tất cả các phương diện, từ sinh hoạt đời thường đến những lễ nghi, từ cuộc sống thôn dã đến nơi triều đình. Thi là tiếng lòng, tức là sự phản ánh của dân chúng đối với nền chính trị.
Thiên tử nhà Chu yêu cầu các vua chư hầu phải thu thập thơ trong dân gian để dâng lên cho mình xem xét qua những chuyến đi tuần thú. Từ đó, vua chư hầu lại sai các quan đi thu thập thơ ca dân gian (thái thi), chư hầu dâng lên , thiên tử xem mà thấy được phong tục (trần thi quan phong). Trong những bài thơ được dâng lên, dẫu có bài chê trách chế độ, nhưng thiên tử không lấy đó mà trách phạt, trái lại càng răn mình chăm lo cho chế độ.
Bởi vậy, Thi là bản trường ca ca ngợi thời kì thịnh trị của nhà Chu, nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu, khi còn các bậc thánh vương như là Văn – Vũ – Chu công, luôn được lòng dân hướng về.
Khi Vũ Vương diệt nhà Thương, xác định nền thể chế của nhà Chu với đầy đủ lễ nhạc, phong cho họ hàng thân thích cùng những đại thần có công các vùng đất để làm chư hầu. Thiên tử nhà Chu ở nơi kinh kì, rộng ngàn dặm, những nơi khác là chư hầu. Nhà Chu đặt ra các chế độ để chư hầu phụng sự, nhưng bản thân thiên tử nhà Chu cũng có trách nhiệm bảo về chư hầu. Họ liên kết với nhau để chống lại các bộ tộc bên ngoài (khuyển, nhung, bắc địch, đông di, nam man, rợ Hoài, kiểm doãn, …). Thiên tử nhà Chu theo thông lệ thì 5 năm sẽ đi tuần thú 1 lần.
Khi nhà Chu Bình Vương dời đô về Lạc Ấp, nhà Chu chuyển sang phía đông, thì trật tự do nhà Chu đặt ra đã không còn được hiệu quả như trước nữa. Chư hầu ngày càng lớn mạnh, lấn át thiên tử nhà Chu, thậm chí còn liên kết với những bộ tộc bên ngoài để đánh chiếm lẫn nhau. Thời Xuân Thu thì mới dừng lại ở chuyện xưng bá, vẫn còn phảng phất cái gọi là đức; nhưng sang thời Chiến Quốc thì chẳng còn gì cả, kẻ mạnh diệt kẻ yếu.
Khi Khổng Tử soạn Xuân Thu, Ngài gửi gắm vào đấy tinh thần phục tùng, đề cao thiên tử nhà Chu. Mọi hành động đều hướng về cái gọi là chính danh và tôn vương nhương di (đề cao thiên tử, xua đuổi di rợ). Cho nên, những ghi chép theo niên hiệu hay tước phong của nhà Chu thì là khen, gọi thẳng tên thì thường là chê. Đấy chính là cách ghi chép thể hiện tinh thần “ngụ bao biếm” (ngụ sự khen chê). Cho nên mới nói, Nhất tự chi bao vinh ư hoa cổn; nhất tự chi biếm nhục ư phủ việt 一 字 之 褒 榮 於 華 袞; 一 字 之 貶 辱 於 鈇 鉞 (một chữ khen thì vinh hơn hoa gấm, một chữ chê sợ hơn búa rìu). Khổng Tử làm Xuân Thu mà loạn thần tặc tử cụ phải kinh sợ.

Bút pháp của Xuân Thu trở thành lối bút của lối viết sử sau này, và là gương sáng rạng soi danh phận, tôn chính thống, mãi là gương cho các bậc đế vương muôn đời.
Tài liệu tham khảo:
1. Phạm Văn Khoái, Giáo trình Xuân Thu - Tả truyện.
2. Ngữ văn Hán Nôm, Ngũ kinh.
Triều Khúc, Hà Nội ngày 13 tháng 12 năm 2013.
Hữu Trạch Lê Đình Sơn chém